Lm. Bartôlômêô M. Phạm Minh Vận, CRM

Kính thưa Anh Chị Em, như chúng ta đã biết, sau hiệp định Ba Lê, ngày 27.3.1973, người Hoa Kỳ tưởng rằng đã trút được một gánh nặng chiến tranh tại Việt Nam, nhưng điều đó quả là một lầm tưởng lớn lao họ không thể lường trước được. Về phía Cộng Sản thừa dịp “đục nước béo cò”, các nước đàn anh phe họ ồ ạt viện trợ vũ khí với tham vọng thôn tính toàn bộ vùng Đông Nam Á, khát mong của họ có đạt được hay không, lịch sử trong quá khứ cũng như trong tương lai đã và sẽ trả lời cho họ.

            Với cái nhìn bên ngoài, Tổng Thống Mỹ Nixon và sau này, Tổng Thống Ford, người kế vị ông vốn cam kết giúp đỡ nhân dân Miền Nam Việt Nam chống Cộng Sản, nhưng vì sự bất đồng ý kiến về vấn đề ngoại giao trong nội bộ Chính Phủ Hoa Kỳ; đàng khác, vì nạn tham nhũng của chế độ đệ II Cộng Hòa tại Miềm Nam Việt Nam quá trầm trọng, nên chiến tranh Việt Nam giống như một cơn dịch tễ mỗi ngày một trở nên trầm trọng và có giúp thêm cũng chỉ là kéo dài cơn hấp hối thôi. 

            Tiếng chuông báo hiệu tử thần tới bắt đầu điểm, từ ngày Cộng Sản chiếm đóng toàn bộ Tỉnh Phước Long vào ngày 9.1.1975 để thử phản ứng của Chính Phủ Hoa Kỳ. Thấy phản ứng quá yếu ớt, thế là họ thừa thắng xông lên. Ngày 23.3.1975, họ chiếm luôn toàn bộ Tỉnh Ban Mê Thuật. Quá hoảng hốt, quân đội Cộng Hòa đành bỏ ngỏ Cố Đô Huế, Đà Nẵng lâm nguy, Quảng Ngãi, Quảng Tín thất thủ. Tiếp đến, Qui Nhơn Bình Định cũng bỏ ngỏ, Phú Yên, Khánh Hòa và Cam Ranh cũng thất thủ. Ngày 11.4.1975, Cộng Sản tấn công Tỉnh Xuân Lộc, mặc dầu Quân Lực Cộng Hòa vốn cố chống giữ cũng không thể ngăn chặn được đà tiến của địch quân đối phương.

            Thế rồi, thấy sự yếu nhược của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và chiến thắng đã đoạt được, bọn Cộng Sản càng lên tinh thần và ngày 14.4.1975, họ thẳng tiến chiếm Tỉnh Biên Hòa, cách đô thành Sàigòn 25 cây số, rồi dừng lại để làm áp lực chính trị.

I. VỊ SÁNG LẬP DÒNG CHÚNG TÔI QUYẾT ĐỊNH THẾ NÀO

            Trong những ngày dồn dập biết bao nỗi lo âu, có thể nói đó là cơn hấp hối của Miền Nam Việt Nam, Cha Đaminh Maria Trần Đình Thủ, Vị Sáng Lập Dòng của chúng tôi dường như đã thấy trước khi quả quyết rằng: “Việt Nam sẽ hoàn toàn rơi vào tay Cộng Sản”. Nhiều người khác, ngay cả trong anh em chúng tôi, đa số cũng không tin là như thế. Ngài rất băn khoăn, ít ăn, ít ngủ đến hao mòn thân xác, lo lắng cho sự sống còn của Hội Dòng, như chính Đức Mẹ đã dùng Ngài để khởi xướng và dầy công dưỡng dục, với biết bao khó khăn vất vả trong nhiều năm qua, mà Ngài đã sẵn sàng hiến trọn cuộc đời cho sứ mạng cao cả này, giờ đây không lẽ để nó phải chết yểu!

            Ngoài việc cầu nguyện và đặt trót niềm tin tưởng nơi sự quan phòng vạn năng và tình yêu thương hải hà của Chúa và Đức Mẹ, Ngài đã sáng suốt ra lệnh kịp thời cho anh em tại các Tu Viện, Khu Sở của Dòng ở các nơi rút về Miền Nam: Anh em từ Di Linh, Đà Lạt, Qui Nhơn, Phan Rí… từ khắp các ngả đường vội vã tuốn về, mặc dầu phải trải qua nhiều gian khổ, anh em đã tới nơi bình an, để rồi quây quần chung quanh Ngài, sẵn sàng vâng phục thi hành tất cả những điều Ngài muốn… Trong khi chờ đợi, ai trong chúng tôi lại không nhận ra nỗi băn khoăn lo âu của Ngài. Chính Ngài đã đích thân cùng với một số anh em đi tìm nơi cho Cộng Đoàn tạm trú: Nào là Phước Tỉnh, Phước Lâm, đến Bãi Dâu Vũng Tầu, nơi nghỉ mát của Dòng Trinh Vương. Tất cả những nơi đó đều không thành công. Sau cùng, là nhà nghỉ mát của Dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán, Dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm, Dòng Mân Côi Bùi Chu xứ Tân Phước, xã Phước Tỉnh. Thế là hồi 2 giờ chiều ngày 5.4.1975, Ngài và hầu hết anh em Dòng đã di tản trên 2,3 chiếc xe bus trực chỉ tới nơi tạm trú này, để chờ dịp thuận tiện và giờ cáo chung của Miền Nam Việt Nam điểm, là chúng tôi sẽ khởi hành cuộc mạo hiểm đi tìm tự do.

            Đồng thời với việc đi tìm nơi tạm trú, cũng như những ngày chờ đợi tại Phước Tỉnh, Cha Bề Trên đã cho một số anh em, bằng nhiều phương thế, như đi mua hoặc thuê tầu, thuê thuyền, cũng như thực hiện những cuộc mạo hiểm thăm dò ngoài biển khơi, tìm phương tiện khả dĩ có thể đưa anh em ra hải ngoại với bất cứ giá nào. Tất cả các phương thế đó hầu như mơ hồ, bấp bênh không đem lại một kết quả nào. Sau cùng, chỉ thuê được 6, 7 chiếc thuyền đánh cá, nhưng nay người này bỏ, mai kẻ khác rút lui. Cũng chưa hết, Cha Bề Trên còn phải gặp nhiều phản đối kêu ca từ khắp nơi vọng về, từ Giáo Quyền tới dân chúng, tất cả đều cho là Đồng Công đã làm xáo trộn, gây hoang mang… Nhưng điều làm Ngài khổ tâm hơn nữa, là có một số trong anh em vì lòng ngay, hoặc cũng vì muốn xây dựng công ích, đã vô tình kêu ca, cho việc Ngài làm là quá mạo hiểm, không thể thành công được, rồi quả quyết với Ngài: “Đó là dấu thánh ý Chúa”, vĩ lẽ tất cả đều ngãng trở. Chính Cha Bề Trên cũng phải xác nhận là: “Tổ chức trong tuyệt vọng!”  Nhưng dầu vậy, Ngài vẫn tổ chức cho anh em ra đi và quả quyết như một lệnh truyền: “Các em phải ra đi!”  Tất cả những khó khăn đó cũng chưa đủ để quyết được là dấu: “Thánh ý Chúa không muốn cho mình ra đi!”

II. TUÂN LỆNH RA ĐI TRONG NIỀM TÍN THÁC

            Sau cùng, Cha Bề Trên đã trao trọn quyền cho một nhóm anh em, thay Ngài tổ chức cho anh em xuất ngoại, còn bản thân, Ngài quyết ở lại với hầu hết các nhân viên Tổng Hội Đồng Phục Vụ để bảo vệ danh dự cho Hội Dòng, để trả lời cho Giáo Quyền và Chính Quyền, cũng như lo cho các Cha Hưu Dưỡng; đồng thời, Ngài cũng hứa là sau khi đã lo cho anh em đi được hết rồi, chính ngài cũng sẽ đi. Đúng như lời các Thánh quả quyết: “Tuân phục đi trước, phép lạ theo sau!”. Lời đó, thực đã ứng nghiệm hoàn toàn nơi việc “Tuân lệnh ra đi, mà không biết đi tới đâu!” của Đoàn Con Mẹ Đồng Công mà sự kiện lịch sử sau đây đã đủ minh chứng:

            1. Khởi hành cấp thời rất đúng lúc: Trước những khó khăn chồng chất, nhóm anh em được Bề Trên ủy thác đã hoàn toàn tin tưởng và tuyệt đối vâng phục, can đảm dám lãnh trách nhiệm thay ngài lo cho Cộng Đoàn, các anh ra lệnh cho chúng tôi đã khởi hành cấp thời rất đúng lúc. Theo thiển ý tôi, chỉ chậm lại hơn kém một giờ nữa, là sẽ bị quân đội Việt Nam Cộng Hòa thất thủ cướp thuyền, hay sẽ phải lãnh những loạt pháo kích của địch quân, rồi cuối cùng sẽ đồng số phận với nhiều người, sống dưới ách gông cùm tàn bạo của Cộng Sản. Qua những sự việc đó, ai trong chúng tôi lại không nhận ra dấu chỉ của tình yêu thương mà Chúa và Đức Mẹ đã hướng dẫn, và quan phòng đặc biệt cho mỗi người cũng cho chung Cộng Đoàn chúng tôi.

            2. Gặp được tầu Hoa Kỳ cứu vớt sớm sủa: Lênh đênhtrên biển khơi bao la, nhiều anh em không thể chịu đựng được với những nôn nao khổ sở, đến nỗi nếu có thể lên bờ được, cũng sẵn sàng chấp nhận cuộc sống dưới gông cùm của chế độ độc tài Cộng Sản, để được thoát cái thập giá đang phải vác bây giờ. Nhưng đó cũng chỉ là những thử thách nho nhỏ với một thời hạn vắn, để rồi chỉ hơn một ngày lênh đênh, trái hẳn với ý nghĩ là có thể phải cả tháng trên biển khơi mới gặp được tầu cứu vớt. Thế là ngay tối ngày 28.4.1975, một số anh em đã được cứu vớt trong đó có các vị trong Ủy Ban Tổ Chức Trung Ương, số khác cũng chỉ phải lo âu hồi hộp qua một đêm và đã được cứu vào lúc tảng sáng hôm sau; còn một số khác phải vất vả cực khổ hơn. Số phận của những anh em không được may mắn cứu vớt lúc ban đầu, phải chăng là thánh ý Chúa muốn chúng tôi, cần phải thể hiện tình bác ái yêu thương, như những nhân chứng của Chúa nơi anh chị em đồng bào thân yêu của mình.

Vietnam refugees. USS Montague lowers a ladder over the side to French LSM to take refugees aboard. Haiphong, August 1954. PH1 H.S. Hemphill. (Navy) EXACT DATE SHOT UNKNOWN NARA FILE #: 080-G-644449 WAR & CONFLICT BOOK #: 386

            3. Đức ái vươn cao, tình thương nở rộ: Vừa thoát khỏi như một cơn ác mộng hãi hùng của một đêm trong lo âu hồi hộp, lênh đênh trên biển cả và chỉ cần vài phút chấn tĩnh, chúng tôi đã lấy lại được thế quân bình của tâm hồn, rồi đã mau mắn xung phong dùng chút khả năng sẵn có và thế giá thông thường của một người Tu Sĩ, để giúp các quân nhân Hoa Kỳ giữ trật tự cho dân chúng, bớt phải tranh dành, hoặc gây xáo trộn; vì đối với người quân nhân, dù có dùng dùi cui, báng súng cũng khó khăn giữ nổi trật tự, có lẽ vì ngôn ngữ bất đồng hoặc vì lòng người còn đang mang nặng những tâm tư khó chịu bực rọc; nhưng đối với một người Tu Sĩ trên mình mang một bộ Áo Dòng đoan trang và cách thế đối xử hiền hậu, khiến dân chúng cảm phục và tuân theo cách dễ dàng.

            Rồi khi vừa lên được tầu, chúng tôi tham gia công tác điều hành, hoặc đóng vai phục vụ giúp việc nấu ăn dọn bữa, phân chia thực phẩm cho dân chúng; khi có người bệnh anh em chúng tôi đi tìm bác sĩ, xin thuốc men cho họ, hoặc bỏ ngay cả chút thuốc mang theo mình để giúp đỡ họ nữa. Nhờ sự nhẫn nại nơi cuộc sống thiếu thốn chật vật, nhất là nhờ lòng bác ái vui tươi, phục vụ đồng loại mà anh em đã chiếm được thiện cảm và lòng mến phục của đồng bào mình và cả người Hoa Kỳ nữa.

Trong các trại tạm cư, chúng tôi cố gắng tham gia công tác mục vụ, khi các vị Tuyên Úy cậy nhờ, các Linh Mục mau mắn dâng Thánh Lễ, ân cần ngồi Tòa Xá Giải, hoặc mau mắn tham dự các phiên nhóm họp Linh Mục; còn các Tu Sĩ đảm trách công tác sinh hoạt Thiếu Nhi, coi sóc Thánh Đường, dọn phòng thánh, lo nghi lễ, giúp lễ hoặc giữ phần thánh ca trong các trong các giờ Phụng Vụ… Ngoài ra, anh em còn tham gia các công tác xã hội như làm Barac Leader, ủy viên ẩm thực, thông dịch viên trong các lớp dạy Anh Ngữ và cũng không ngần ngại theo lời yêu cầu của dân chúng, mở các lớp dạy Anh Ngữ tư tại các buildings giúp đỡ đồng bào đang ham học hỏi. Ngay cả cuộc sống âm thầm của nhóm anh em được mệnh danh là “bốn chú độc thân vui tính”, người đâu tên gọi là gì, xuất phát từ đâu và rồi sẽ đi đâu cũng chẳng ai hay, thế mà cũng thu hút được thiện cảm và mến phục không nhỏ, các trẻ em cũng như người lớn tuổi, chỉ biết kêu các chú với cái tên là chú Hai, chú Ba, chú Tư, chú Năm.

III. DIỄN TIẾN VIỆC NHẬN BẢO TRỢ CHO CỘNG ĐOÀN

Kính thưa Anh Chị Em,giữa lúc tâm trạng mọi người đều hoang mang, ai cũng nô nức tìm người bảo trợ cho bản thân hoặc cho gia đình mình. Còn chúng tôi, một Cộng Đoàn Dòng Tu cũng chưa có nơi nương tựa, những Vị Hữu Trách trong cuộc xuất ngoại hãy còn ở xa chưa thể liên lạc được. Vậy trong lúc bơ vơ đầy hoang mang này, chúng ta phải làm thế nào đây?

            A. TÌM PHƯƠNG THẾ BẢO TỒN ƠN GỌI CỦA ANH EM: Ngày 17.5.1975, sau khi nhóm thứ 8 trong số 9 nhóm, tới trại Fort Chaffee, tiểu bang Arkansas, Cha Ban với tư cách là người Đại Diện Cộng Đoàn, triệu tập 13 anh em đại diện, tới dự buổi họp đầu tiên với chủ đích: “Tìm phương thế duy trì tinh thần và bảo tồn ơn gọi của anh em”.

            Sau khi nghe trình bày mục đích của phiên họp, mọi anh em đều tỏ ra sốt sắng đóng góp nhiều ý kiến xây dựng, có những ý kiến về mặt tích cực cũng như tiêu cực, phần đối nội cũng như đối ngoại với tất cả tấm lòng hiệp nhất, hăng say muốn duy trì tinh thần đạo đức và ơn gọi của anh em.

            Thể theo các ý kiến của anh em, Cha Đại Diện đưa ra mấy quyết định đơn sơ sau đây: Chia nhóm để họp kiểm thảo hằng tuần, xưng tội hai tuần một lần, tham gia các công tác xã hội… nhưng một quyết định khác gây xôn xao, khiến anh em nêu ra nhiều lý do hơn thiệt, lợi hại…Sau cùng, tất cả anh em cùng đồng ý mấy điểm sau đây:

            1. Ngưng tất cả các việc nhận bảo trợ tư nhân cũng như từng nhóm. Vì vậy, nếu cá nhân hay nhóm nào đã có bảo trợ thì xin rút lại hồ sơ.

            2. Chờ đợi các Vị Hữu Trách của Ủy Ban Trung Ương một tháng nữa, nếu không thể liên lạc được, chúng ta sẽ bàn tính lại sau.

            3. Cha Đại Diện sẽ biên thư liên lạc với Cha Nguyễn Đức Kiên đang du học tại Roma để tìm hiểu và bàn truyện với Ngài.

            Tại sao có những quyết định trên đây? Là vì tất cả anh em đều ý thức được trách nhiệm phải Bảo Tồn Dòng và Ơn Gọi Anh Em, vì nếu mỗi người mỗi ngả, hay mỗi nhóm lẻ tẻ đi khắp đó đây, làm sao có thể giữ được tinh thần và đời sống tu trì; nếu làm khác đi phải chăng vô tình chúng ta đã tự giải tán Dòng, vì không lẽ Chúa và Đức Mẹ đã cứu chúng ta thoát ách Cộng Sản, đưa chúng ta tới miền đất tự do này, rồi lại để chúng ta phải tan rã, như thế chẳng khác gì “đưa con đi bỏ chợ sao!”  Lý tưởng đời tu trì của chúng ta, tương lai của Hội Dòng sẽ đi về đâu! Làm sao có thực thi được lời Vị Sáng Lập đã căn dặn: “Các em ra đi để bảo tồn Dòng và phát triển việc truyền giáo”.

            Sau một tuần âm thầm cầu nguyện, chúng tôi cảm thấy: Không thể cứ âm thầm chờ đợi Ủy Ban Trung Ương một tháng nữa.Vậy,để chấn tĩnh lòng anh em đang hoang mang dao động, chúng tôi những người được anh em trao trách nhiệm điều hành, cần phải nỗ lực hoạt động, tìm phương thế bảo tồn Dòng và duy trì Ơn Gọi của anh em: 

            B. CUỘC TIẾP XÚC GÂY CHÁN NẢN VÀ THẤT VỌNG: Khi Cha Trần Công Nghị, một Linh Mục Việt Nam du học tại Hoa Kỳ và đang làm Phó Tuyên Úy sinh viên Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, được Đức Giám Mục New York cử ngài tới trại Fort Chaffee làm tuyên úy giúp đồng bào Việt Nam tị nạn tại đây, ngài là một Linh Mục trẻ, hoạt động, vui vẻ, là chú họ của một Tu Sĩ Đồng Công hiện đang còn ở Việt Nam. Cha Ban cùng với một Thầy là người đã từng quen biết tới gặp ngài, được ngài niềm nở tiếp đón. Sau khi nghe trình bày về hiện tình của Cộng Đoàn Đồng Công và ước nguyện của chúng tôi, xin ngài giúp ý kiến và chỉ phương tiện… Chúng tôi đã được ngài rất chân thành và khiêm tốn bày tỏ ý kiến đại quan mấy điểm như sau:

            Ngài nói: Theo sự hiểu biết của con, con thấy việc tập trung một cộng đồng lớn như vậy về một nơi tại Hoa Kỳ hiện nay, như Quý Dòng ước ao là một điều không có thể, vì lấy nhà đâu mà ở, làm gì để sinh sống, huống chi còn nói tới truyện phát triển công việc truyền giáo? Con thú thực, con rất cảm phục Cha Bề Trên, chủ trương và đường lối của Quý Dòng, các phương tiện truyền giáo và các việc từ thiện bác ái mà Quý Dòng đã thực hiện, nhưng con thiết nghĩ, tất cả những điều đó chỉ thích hợp với hoàn cảnh ở Việt Nam và nơi các nước nghèo chậm tiến, nhưng sang tới đất nước văn minh này nó không thể thực hiện được. Con không bi quan, nhưng con chỉ nói lên sự thực, vì những lý do sau đây:

            1. Con thử hỏi, bao giờ Quý Dòng mới có thể mở được một trường trung học tại Hoa Kỳ này? Để mở được một trường trung học phải có đủ văn bằng, đủ phòng ốc, tiện nghi, thư viện, phòng thí nghiệm… và mình cũng không thể dạy họ được, vì họ hơn mình, như thế phải thuê một ban giáo sư, lấy tiền đâu mà đài thọ? Vả nữa, bên đây họ thiếu gì trường để theo học, họ cần gì phải đến với mình.

            2. Còn về bệnh viện, cô nhi viện, viện tế bần, viện dưỡng lão, liệu Quý Dòng có thể thực hiện được không và lấy gì để thực hiện? Bên đây họ không thiếu những thứ đó, họ đã có các viện dưỡng lão, bệnh viện của Chính Phủ, không còn thiếu gì cả.

            3. Về việc truyền giáo càng khó khăn hơn nữa, làm sao mình có thể rao giảng Phúc Âm cho họ được, vì họ hơn mình; vả nữa, hầu hết họ là người Tin Lành, mà Tin Lành thì nói đến việc truyền giáo cho họ là truyện không có thể.

            Thưa Cha, con không bi quan, con chỉ nói lên sự thật theo sự hiểu biết của con, con hy vọng Cha sẽ gặp được một Linh Mục nào khác may ra có lạc quan hơn không!… Sau này, khi cuộc sống thực tế đã ổn định, ai trong chúng tôi cũng nhận ra những điều trên đây đều hoàn toàn xác thực.   

Vậy theo ý con, con xin đề nghị: Cha cứ để cho các Thầy đi nhận bảo trợ từng nhóm 3 hoặc 4 anh em do một gia đình, một Giáo Xứ hay một đoàn thể, để làm ăn sinh sống đã, rồi sau này, nếu Ủy Ban Tổ Chức Trung Ương tìm một nơi hay một trụ sở nào, có đủ kinh tế sinh sống, đăng báo triệu tập về chung sống với nhau, ai muốn tiếp tục Đời Tu Đồng Công thì trở về, còn ai không muốn nữa, họ có thể vào tu trong các chủng viện của Giáo Phận hay Dòng Tu nào đó, hoặc nếu ai không còn muốn sống đời tu trì nữa, họ có thể đi lấy vợ sống đời hôn nhân.

            Kính thưa Anh Chị Em, cuộc tiếp xúc với Linh Mục Việt Nam du học đến đây đã chấm dứt, hai anh em cám ơn Cha và từ giã ngài ra về, trong lòng mang nặng một nỗi hoang mang thất vọng. Tối hôm đó, các anh đã thuật lại tất cả câu truyện với nhóm anh em hữu trách, chúng tôi cũng có cùng một tâm trạng buồn rầu và lo lắng như các anh, biết làm sao bây giờ? Không lẽ để anh em tản mát như lời ngài đề nghị, làm như thế thì bảo tồn Dòng làm sao được? Điều đó không thể chấp nhận được. Do đó, vốn đồng ý với nhau duy trì quyết định ngưng việc nhận bào trợ và hãy chờ đợi đã, nhất là khuyến khích anh em gia tăng cầu nguyện và tin tưởng, nài xin Chúa và Đức Mẹ thực hiện những điều Chúa và Đức Mẹ muốn; đồng thời, cố gắng giữ vững đời sống thiêng liêng đạo đức rất tử tế.

            Sau mấy ngày cầu nguyện, chúng tôi nghĩ, không thể chỉ cầu nguyện, nhưng đồng thời cũng phải hoạt động để tìm người bảo trợ cho Cộng Đoàn, có như thế mới trấn an được lòng anh em, trong khi tất cả đều hợp nhất, một lòng một ý với nhau. Mặc dầu chúng tôi chỉ là mấy anh em thể theo ý kiến chung, tự nguyện vì công ích đứng ra lãnh trách nhiệm điều hành, nhưng anh em rất sẵn sàng hiệp nhất và dễ dàng vâng phục.

            C. CUỘC TIẾP XÚC ĐẦY PHẤN KHỞI VÀ HY VỌNG: Tới đây, chúng tôi xin được trình bày tóm lược diễn tiến việc tìm người bảo trợ cho Cộng Đoàn, qua nhiều lần tiếp xúc với một Linh Mục người Hoa Kỳ, phó Tuyên Úy tại trại Fort Chaffee, Arkansas:

1. Đức Mẹ đã soi sáng lập Dòng, Đức Mẹ sẽ gìn giữ Hội Dòng: Ngày 21.5.1975, Chúa quan phòng ban cho chúng tôi gặp được Cha Thomas McAndrew, sau khi chào hỏi và giới thiệu Cha Ban là Bề Trên của nhóm anh em Đồng Công tại đây, chúng tôi trình bày cho ngài biết về cuộc di cư của Cộng Đoàn với tổng số ước lượng, tính theo danh sách trong sổ danh bộ của Dòng là 8 Linh Mục, 166 Tu Sĩ, tất cả là l74 người, hiện ở đây có 3 Linh Mục và 49 Tu Sĩ, tất cả là 52 anh em. Còn các Linh Mục và Tu Sĩ khác đang rải rắc trong các trại tạm cư khác, hiện họ đang ở nơi nào thì chúng tôi không biết rõ ràng. Trong cuộc tiếp xúc đầu tiên này, chúng tôi cũng trình bày cho ngài biết lịch sử của Hội Dòng do Cha Đaninh Maria Trần Đình Thủ, một Linh Mục Việt Nam đã được Đức Mẹ soi sáng thành lập, được Đức Mẹ phù trợ cách đặc biệt trong suốt dòng lịch sử từ đầu tới nay. Cũng trình bày cho ngài biết mục đích và chủ trương của Hội Dòng, các phương tiện truyền giáo như mở trường học, cư xá sinh viên, thiết lập bệnh viện, cô nhi viện, viện dưỡng lão cho người nghèo, Giáo Sĩ Dưỡng Đường cho các Linh Mục của các Giáo Phận, cùng với các sinh hoạt Hội Dòng đã thực hiện, về nhân sự và tình trạng hiện nay. Sau cùng, bày tỏ các ước nguyện sau đây xin ngài giúp đỡ:

+ Cần có một trụ sở để tất cả mọi anh em được đoàn tụ, hầu có thể tiếp tục đời sống tu trì, củng cố tinh thần và chuẩn bị các việc cho tương lai của Hội Dòng.

+ Cần có một Vị Giám Mục hay một Cơ Quan Từ Thiện nào bảo trợ và nâng đỡ giúp Hội Dòng được tồn tại và phát triển trong tương lai.

            Sau khi nghe trình bày các ước muốn này, Cha McAndrew nói: Tôi chỉ có nhiệm vụ giúp đỡ các Linh Mục, không có nhiệm vụ lo cho các Tu Sĩ, các Hội Dòng, vì phạm vi của tôi quá bé nhỏ; nhưng dầu vậy, tôi cũng cố gắng bao nhiêu có thể giúp đỡ Quý Dòng. Vậy xin Cha cho làm tờ kê khai danh sách tất cả các Linh Mục và Tu Sĩ của Hội Dòng đã ra khỏi Việt Nam, anh em đang ở đây cũng như anh em đang ở các nơi khác và kèm theo một bản tóm tắt lịch sử của Hội Dòng bằng Anh Ngữ, để tôi có thể giới thiệu Hội Dòng với các vị Giám Mục và xin các ngài giúp đỡ. Tôi không dám hứa, nhưng tôi sẽ gắng sức, “Xin anh em hãy cứ cầu nguyện, vì Đức Mẹ đã soi sáng lập Dòng, Đức Mẹ sẽ gìn giữ Hội Dòng”. Nhưng tôi xin thú thực, việc đoàn tụ tất cả 174 anh em về một nơi trên đất Hoa Kỳ này là một điều không có thể, tôi chỉ ước ao 30 người một nhà là cùng, rồi sau khi củng cố được nội bộ vững chắc, tìm được một nơi rộng lớn hơn, sẽ tụ tập về với nhau cũng không sao. Nói tới đây, ngài còn nhấn mạnh thêm: “Mặc dầu, người ta không có thể, nhưng Thiên Chúa lại có thể, Ngài làm được mọi sự”. Cha cũng nhắc thêm: Chúng ta cứ tin tưởng, làm việc và cầu nguyện!”

            Cha McAndrew cũng cho biết thêm: Hai hôm nữa, sẽ có một Linh Mục, bạn thân của tôi, là ký giả của tờ tuần báo báo Mirror sẽ tới đây, tôi sẽ giới thiệu anh em với ngài, anh em trực tiếp nói truyện với ngài, ngài sẽ phỏng vấn về Hội Dòng, hoặc ngài sẽ yêu cầu anh em viết những bài giới thiệu về Hội Dòng để đăng trên báo; có như thế, các Vị Giám Mục cũng như các Cơ Quan Từ Thiện sẽ hiểu biết và mới có thể giúp đỡ Hội Dòng được.

            Từ giã ra về, lòng được phấn khởi và chúng tôi xúc tiến ngay việc viết tiểu sử Dòng, tìm tài liệu sách vở, các hình ảnh về Dòng nơi mỗi anh em, ai đã mang theo được gì thì xin anh em tập trung lại hết. Đồng thời, chúng tôi cũng thầm nghĩ, nếu không đoàn tụ được tất cả thì ít ra cũng cố gắng cho nhóm 52 anh em ở đây trước, vì 30 hay 50 cũng được chứ. Chúng tôi viết bản tiểu sử Hội Dòng bằng Anh Ngữ ngắn gọn chừng 3,4 trang; đồng thời, làm bản kê khai danh sách tất cả mọi anh em đã rời khỏi Việt Nam ngay chiều hôm đó, chiếu theo sổ danh bộ có sẵn trong tay, để cuộc tiếp xúc tiếp tới sẽ có tài liệu ngay.

            2. Anh Em có tài liệu và hình ảnh nào không: Sáng ngày 23.5.1975, nhóm Đại Diện anh em lại tới tiếp xúc với Cha McAndrew, để đáp lại điều ngài mong muốn, chúng tôi giới thiệu với ngài các tài liệu về Dòng như: Hiến Pháp Tục Lệ Dòng, Bản Sơ Thảo Lịch Sử Dòng, Lý Tưởng Đồng Công, hồi ký của Đấng Sáng Lập, cùng với bản Tiểu Sử tóm tắt về quá trình sinh hoạt của Hội Dòng bằng Anh Ngữ. Ngoài bản Tiểu Sử bằng Anh Ngữ, còn các tài liệu khác đều bằng Việt Ngữ, ngài nhún vai vì không đọc được. Chúng tôi đã trình bày cho ngài hiểu biết thêm về Hội Dòng, trả lời những câu hỏi ngài đề ra. Sau đó, ngài hỏi thêm: Có hình ảnh nào không?” Thế là hình ảnh đã được dự phòng sẵn trong cặp được rút ra trình bày cho ngài coi: Đây là hình Vị Sáng Lập Dòng, hình các Tu Viện các cơ sở truyền giáo, các trường trung tiểu học Đồng Công Thủ Đức, Mỹ Chánh, Cư Xá Rạng Đông Đà Lạt, Giáo Sĩ Dưỡng Đường, các cuộc Lễ Thánh Tẩy cho các người Tân Tòng gia nhập Đạo Công Giáo tại Mỹ Chánh… Nhất là tấm hình Đức Giám Mục Phạm Ngọc Chi, là vị đã ban sắc thành lập tại Giáo Phận Bùi Chu Bắc Việt chụp chung với anh em Dòng, ngài cũng là vị Giám Mục đầu tiên đã nâng đỡ giới thiệu và đệ trình Hiến Pháp Dòng với Tòa Thánh. Đây là hình Đức Cha Phạm Ngọc Chi và Đức Cha Hoàng Văn Đoàn, tới thăm cư xá sinh viên Rạng Đông Đà Lạt, Đức Cha Hoàng Văn Đoàn là vị đã truyền chức cho 15 Linh Mục của Dòng và chính Cha Bề Trên chúng con đây cũng được thụ phong bởi ngài.

3. Đối với người Mỹ, chỉ khi làm hay họ mới tin là hay: Ngày 25.5.1975, nhóm Đại Diện anh em lại tới tiếp xúc với Cha McAndrew, với chủ ý là gặp vị Linh Mục ký giả tờ báo Mirror như ngài đã giới thiệu trước, nhưng vì ngăn trở, vị Linh Mục đó đã cáo lỗi, không thể tới được. Trong buổi nói truyện hôm nay, ngài nói một câu khiến chúng tôi phải lưu tâm suy nghĩ nhiều: Đối với người Mỹ, nói hay họ chưa tin là hay, chỉ khi làm hay họ mới tin là hay!”  Hôm nay, ngài cũng cho biết: Có ông Bùi Văn Tường đang ở trong bệnh viện, ông đã cao tuổi, không có thân nhân, lại bị diếc, không biết ông là Linh Mục hay Tu Sĩ hoặc Giáo Dân, vì thấy ông mang trên mình Tượng Chúa Chuộc Tội rất lớn. Ngài ước ao anh em chúng tôi tới thăm để biết rõ ông là người thế nào và ngỏ ý muốn chúng tôi đưa ông về chung sống và săn sóc cho ông. Sau đó, anh em chúng tôi tới bệnh viện thăm và biết ông là một Giáo Dân đã 80 tuổi, ông đi bán thuốc bắc tại vùng Phước Tỉnh, tới lúc nguy ngập ngày 30 tháng 4 ông được may mắn nhảy lên một chiếc thuyền ra khơi. Khi tới Hoa Kỳ, người ta thấy ông cô thân cô thế, già lão bệnh tật nên họ đưa ông vào bệnh viện.

            4. Anh em đừng xin vị Giám Mục nào khác nữa nhé: Tối hôm qua Cha McAndrew báo cho chúng tôi một tin mừng là các Cha Dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm (Oblate of Mary Immaculate (OMI) tại Missouri sẽ nhường cho Cộng Đồng chúng tôi một khu đại học, cho thuê với giá danh dự mỗi năm một Dollar, sau này nếu cần, họ sẽ nhường hẳn cho Hội Dòng. Thế là ngày 30.5.1975, chúng tôi lại tới gặp Cha, được ngài cho hiểu rõ hơn về khu đại học này, cũng được ngài cho biết thêm một tin vui: Đức Giám Mục Bernard Law đã họp Hội Đồng Cố Vấn Giáo Phận, sẵn sàng đón nhận anh em Đồng Công vào Giáo Phận của ngài, tất cả mọi người không trừ ai. Sau cùng, Cha McAndrew còn lưu ý thêm: Anh em đừng xin với một vị Giám Mục nào khác nữa nhé.  Chúng tôi thầm nghĩ anh em mình có biết ai đâu mà xin. Thực ra, hôm nay Cha McAndrew rất bận trở, ngài cho biết chỉ gặp chúng tôi 15 phút thôi, thế mà câu truyện cũng kéo dài gần một giờ.

            5. Đức Mẹ sẽ làm Cố Vấn cho Hội Dòng: Sáng ngày 2.6.1975, nhóm Đại Diện anh em lại tới gặp Cha McAndrew, vì tối hôm qua ngài báo tin cho biết: Đức Giám Mục Bernard Law, Cha Giám Tỉnh Dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm và phái đoàn của ngài sẽ tới trại Fort Chaffee thăm anh em Đồng Công. Hôm sau, tin này được loan báo cho tất cả Giáo Dân các khu vực trong trại, để mọi người chuẩn bị đón tiếp Đức Giám Mục và phái đoàn. Sau khi được ngài cho biết tường tận về vấn đề này, chúng tôi xin ngài làm Cố Vấn cho Cộng Đoàn, ngài đã khiêm tốn trả lời: Đức Mẹ sẽ làm cố vấn cho Hội Dòng”.

            Tối hôm qua, chúng tôi đã nhóm họp và quyết định đón nhận ông Bùi Văn Tường, nên sáng hôm nay chúng tôi thưa với ngài quyết định đó, ngài tỏ ra vui mừng đáp lời: “Đấy là cách đáp đền ơn Thiên Chúa nhất”.

            Để tỏ lòng tín nhiệm ngài, hôm nay chúng tôi đã nêu một vài khó khăn xin ngài giúp ý kiến: “Thưa Cha, quyền hạn của các vị Giám Mục trên các Dòng Tu thế nào, nhất là khi Hội Dòng chúng con đây còn thuộc Đấng Bản Quyền Giáo Phận?” 

            Về vấn đề này được ngài trả lời như sau: “Đó là một vấn đề rất tế nhị và khó nói, nhưng xin anh em đừng lo, Giám Mục không thể lấn quyền mình được, vì đã có sự trợ giúp của Tổng Hội các Dòng Tu, một khi Hội Dòng của anh em đã ở trong Tổng Hội đó, thì đời nào họ chịu để cho một vị Giám Mục lấn quyền mình được”.

            Chúng tôi hỏi ngài thêm: “Thưa Cha, còn vấn đề kinh tế của chúng con thì thế nào, chúng con sẽ lấy gì để sinh sống và duy trì Hội Dòng?”

            Về vấn đề này được ngài trả lời: “Tôi cũng không rõ Đức Cha sẽ giúp anh em được bao lâu, nhưng tôi nghĩ cũng đừng lo lắng, cứ trông cậy vào Đức Mẹ”.

            Sau cuộc tiếp xúc này, chúng tôi tới bệnh viện đón ông Bùi Văn Tường về sống chung cùng trại với chúng tôi. Ông Tường là một người đạo đức, đã cao tuổi, lại bị điếc nữa nên cũng gặp nhiều khó khăn… Mấy người bàn với chúng tôi: “Nên đưa ông vào viện dưỡng lão”… Nhưng chúng tôi quả quyết với nhau: “Bất cứ giá nào cũng phải giữ ông Tường ở lại với chúng ta, vì phải chăng đây chính là một trắc nghiệm xem chúng ta có làm điều chúng ta nói không”. Như lời Cha McAndrew đã nói trước: “Đối với người Mỹ, nói hay họ chưa tin là hay, chỉ khi nào làm hay họ mới tin là hay”.  Đây là điều hữu lý đáng chúng ta phải quan tâm.

IV. CUỘC ĐÓN TIẾP ĐỨC GIÁM MỤC VÀ PHÁI ĐOÀN

            1. Cuộc đón tiếp Đức Giám Mục và Phái Đoàn: Ngày 5.6.1975, hồi 10 giờ sáng Đức Giám Mục Bernard Law và Phái Đoàn của ngài gồm có Cha Bề Trên Tổng Hội Dòng Tu, Cha Giám Tỉnh Dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm, Sister Rosae Cantu, ông kinh tế gia của Giáo Phận, cũng là chủ nhiệm tuần báo Mirror, tới viếng thăm trại tạm cư Fort Chaffee.

            Trong Thánh Lễ tại khán đài ngoài trời, Đức Cha chủ tế và giảng thuyết, có tất cả các Linh Mục Việt Mỹ cùng đồng tế, một số đông anh chị em đồng hương sốt sắng tham dự, bày tỏ niềm hân hoan đón tiếp một vị Chủ Chăn của Giáo Hội Hoa Kỳ. Anh em Đồng Công trong bộ Tu Phục phụ trách phần thánh ca với Bộ Lễ Angelis bằng La Ngữ và mấy bài hát bằng Việt Ngữ phổ thông để anh chị em đồng hương cùng tham gia. Cuối Thánh Lễ, Cha phụ trách nhà nguyện Đức Mẹ La Vang, địa điểm đón tiếp Đức Giám Mục tuyên bố: “Sau Thánh Lễ, Đức Cha và Phái Đoàn còn lưu lại một ít thời giờ nữa để gặp các anh em Tu Sĩ Đồng Công tại nhà nguyện Đức Mẹ La Vang, vậy quí vị nào muốn, xin mời vào tham dự”.  

            Cuộc đón tiếp Đức Cha và Phái Đoàn trong nhà nguyện Đức Mẹ La Vang diễn ra trong bầu khí rất thân mật, vui tươi, phấn khởi. Đức Cha và Phái Đoàn tiến vào nhà nguyện, mọi người vỗ tay rền vang chào mừng, anh em Đồng Công đồng ca bản “Vivat! Vivat! Vivat!” (Vạn Tuế! Vạn Tuế! Vạn Tuế Đấng đến nhân danh Chúa!). Chúng tôi đã soạn sẵn một bài chúc mừng Đức Cha và Phái Đoàn như thông lệ trong các cuộc chúc mừng ở bên quê nhà, nhưng Cha Đại Diện chúng tôi chưa kịp đọc, thì Đức Cha đã lên tiếng chào mừng anh em Đồng Công và mọi người đang tham dự, rồi giới thiệu các nhân vật trong Phái Đoàn của ngài, tiếp đến ngài cho biết chính ngài cùng với Hội Đồng Cố Vấn của Giáo Phận nhóm họp đã quyết định sẵn sàng và vui mừng đón nhận Anh Em Đồng Công vào Giáo Phận của ngài. Đức Cha nói với tất cả mọi người một bài dài, nhưng chỉ xin ghi tóm gọn một vài lời đại ý sau đây: “Chúng ta khác nhau về ngôn ngữ và phong tục, nhưng chúng ta có cùng một niềm tin, cùng là con cái Thiên Chúa, là phần tử của Giáo Hội Công Giáo của Chúa Kitô… Tôi cũng muốn đón nhận một số gia đình anh chị em Giáo Dân vào Giáo Phận của tôi. Vậy nếu anh chị em nào có điều gì thắc mắc, xin cứ trực tiếp với ông kinh tế gia, chủ nhiệm tời báo Mirror đây, các Nữ Tu muốn cần sự giúp đỡ nào, xin đến với Sister Rosae Cantu…”  Sau cùng, ngài nói: “Bây giờ chúng tôi cần phải gặp riêng anh em Tu Sĩ Đồng Công”.

            Thế là Cha Bề Trên Tổng Hội Dòng Tu, Cha Giám Tỉnh Dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm, Cha McAndrew và nhóm đại diện anh em Đồng Công lên sàn hát cuối nhà nguyện, còn Đức Cha vốn đứng ở dưới nói truyện riêng với người này, người khác với tình cha con thân mật, vui vẻ và cởi mở.

            2. Chúng tôi sẽ giúp đỡ Hội Dòng những gì có thể: Nội dung cuộc tiếp xúc trên sàn hát diễn ra trong bầu khí thân mật, đơn sơ, cởi mở, rất thông cảm. Đại ý, các ngài bày tỏ một niềm vui vẻ và ân cần chia sẻ mấy vấn đề sau đây:

            Cha Giám Tỉnh Dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm nói: Chúng tôi sẵn sàng giúp đỡ Quý Dòng những gì có thể, chúng tôi sẽ cho anh em thuê một khu đại học gồm 5 tòa nhà với khu đất rộng gần 30 acres với giá danh dự mỗi năm 1 dollar, còn về kinh tế thì chúng tôi chỉ có thể giúp một phần nào thôi”.

            Sau khi trao đổi ý kiến tìm hiểu về Hội Dòng, bản tài liệu tiểu sử Hội Dòng được trao cho mỗi vị, các Cha Dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm trao cho chúng tôi tài liệu khu đại học, trình bày cho hiểu rõ hơn, vì trước đây mấy hôm các ngài đã gửi bản photo hình các tòa nhà cho chúng tôi rồi. Nhưng điều làm cho các ngài lưu tâm hơn, chính là phương tiện giúp chúng tôi sinh sống, nên các ngài hỏi: “Anh em biết làm những nghề gì?”

            Đang lúc băn khoăn không biết phải thưa thế nào, thì Cha McAndrew trả lời thay: “Ở Việt Nam, Quí Dòng có 4,5 trường trung tiểu học, cư xá sinh viên, Giáo Sĩ Dường Đường cho các Linh Mục, viện dưỡng lão cho đồng bào thiểu số, có nhà in, nhà xuất bản, lại có 2,3 đồn điền trà, càfé… Đó là chính các nghề nghiệp của họ”.

Các vị hỏi tiếp: “Anh em hiện nay có bao nhiêu tiền?”

Cha McAndrew đáp ngay: “Họ chỉ có 300 dollars mà thôi!”

            Với số tiền quá bé nhỏ cho một Cộng Đồng Tu Trì, các Cha tỏ thái độ thông cảm, nhưng không biết nói thế nào. Sau cùng, các vị lại hỏi Cha McAndrew: “Vậy bây giờ ai là người bảo trợ cho Quý Dòng?”

            3. Chính tôi là người Bảo Trợ Hội Dòng: Đang lúc Cha McAndrew chưa đáp được câu hỏi, thì Đức Cha vai vắt áo manteau, tay xách cặp leo lên sàn hát, đứng tựa vào bao lơn, mời ngài ngồi ghế, ngài không ngồi. Các Cha lặp lại câu hỏi trên: “Thưa Đức Cha, ai là người bảo trợ cho Hội Dòng?”

Đức Cha Giơ bàn tay chỉ vào mình và đáp ngay: “Chính tôi là người bảo trợ cho Hội Dòng”.

Như vậy, không còn gì phải bàn thêm nữa, Đức Cha tỏ thái độ vui vẻ hỏi: “Hội Dòng anh em là Dòng thuộc quyền Giáo Phận hay thuộc quyền Giáo Hoàng?”

Chúng tôi đáp: “Thưa Đức Cha, Dòng chúng con còn thuộc quyền Giáo Phận, chúng con cũng đang sửa soạn để xin trực thuộc Giáo Hoàng”.

            Đức Cha với nụ cười hồn nhiên, giơ tay làm hiệu và nói: “Anh em phải vâng lời đấy nhé!”

            Sau một vài lời cảm ơn Đức Cha và Phái Đoàn, trước khi Đức Cha và Phái Đoàn ra về, Cha Đại Diện xin chụp ảnh kỷ niệm với Đức Cha và Phái Đoàn. Đức Cha muốn đưa một vài anh em đi ngay để chuẩn bị trước, nhưng McAndrew nói: “Thưa Đức Cha, không được, vì chưa làm xong hồ sơ và điều tra an ninh”. Đức Cha nói với Cha McAndrew: “Cha hãy lo làm hồ sơ cho họ sớm bao nhiêu có thể”. Ngài còn lưu ý thêm: “Cha nhớ làm hồ sơ cho ông già nữa đấy nhé!”

            Sau khi Đức Cha trở về Giáo Phận, Cha Đại Diện chúng tôi biên một lá thư cảm ơn Đức Cha, Cha Giám Tỉnh Dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm, Cha Bề Trên Tổng Hội Dòng Tu. Thư này đã được đăng trên tuần báo Mirror.

            Tối hôm qua được báo tin làm thủ tục hồ sơ xuất trại, nhóm chúng tôi lại tới gặp Cha McAndrew để biết cách làm thủ tục thế nào và đồng thời cũng trao cho ngài thêm danh sách của 58 anh em khác đã gặp nhau ở trại Orote Point đảo Guam, xin Cha giúp đỡ can thiệp cho họ về, vì thiết nghĩ nghĩ chông tôi cũng có trách nhiệm phải lo cho hết mọi anh em, còn các anh em ở đảo Wake thì chưa có danh sách nào cả.

            4. Cuộc tạm biệt Cha Thomas McAndrew: Chiều ngày 29.6.1975, tất cả anh em chúng tôi quầy quần bên Cha Thomas McAndrew, để bày tỏ lòng quí mến biết ơn và tạm biệt ngài, một đại diện anh em đã đọc một bài đơn sơ, nhưng đủ nói lên được tâm tình biết ơn của chung Cộng Đoàn, trong đó có câu: Chúng con tin rằng Chúa Quan Phòng và Đứtc Trinh Nữ Rất Thánh đã đưa Cha tới đây để đặc biệt giúp đỡ Cộng Đoàn chúng con, trong lúc chúng con không biết phải làm gì… Cha không những là người môi giới, mà còn là vị Cố Vấn của chúng con, Cha đã tận tình giúp đỡ, săn sóc, khuyến khích chúng con và dành cho chúng con nhiều ưu ái. Tất cả anh em chúng con rất cảm động và chân thành nhớ ơn Cha mãi mãi. Cha là vị Linh Mục Ân Nhân đầu tiên trong lịch sử của Hội Dòng chúng con tại Hiệp Chủng Quốc này… Chúng con không biết phải bày tỏ lòng biết ơn của chúng con thế nào hơn, chúng con chỉ biết xin Chúa và Mẹ Maria chúc lành cho Cha, cho gia đình cũng như công việc tông đồ của Cha.

V. NGÀY VỀ TRỤ SỞ TRUNG ƯƠNG TẠI CARTHAGE

1. Mọi người đều tỏ niềm hân hoan vui mừng: Ngày 30.6.1975, một chiếc xe Bus lớn từ trại Fort Chaffee, Arkansas chở 48 anh em về tới Carthage, Missouri khoảng sau 12 giờ trưa, hiện diện có Đức Giám Mục, Thân Mẫu của ngài, nhiều Linh Mục, một số nhân vật quan trọng thuộc Chính Quyền địa phương, nhiều quý ông bà thuộc Giáo Xứ St. Ann, đặc biệt có Cha Weissler, Cha Chánh Xứ Giáo Xứ St. Ann và cũng là Linh Mục thuộc Dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm, vị có trách nhiệm quản trị khu vực đại học này… Tất cả mọi người đều bày tỏ niềm vui mừng nồng nhiệt đón tiếp anh em chúng tôi, không những như một nhóm người di cư từ một quốc gia xa xôi tới, nhưng còn là một nhóm Linh Mục và Tu Sĩ của một Hội Dòng nữa, nên mang nhiều sắc thái tôn giáo đạo đức. Hiện diện hôm nay, anh em chúng tôi còn có thêm Cha Nguyễn Đức Kiên, CMC đến đây liên lạc tìm hiểu trước, nên chúng tôi rất được vững tâm. Trong buổi tiếp đón này còn có 2 đài truyền hình lấy tin tức nữa.

            2. Thánh Lễ Tạ Ơn Chúa và Đức Mẹ tại Đền Thánh Mẹ Fatima: Sau khi mọi anh em lấy đồ trên xe xuống và để ngay trên bồn cỏ nơi tượng Đức Mẹ Fatima, rồi vào Đền Thánh dâng Thánh Lễ đồng tế trọng thể tạ ơn Chúa và Đức Mẹ, Đức Cha Chủ Tế và giảng thuyết trong Thánh Lễ, Cha Weissler đọc Sách Thánh, ngài quá xúc động, không cầm nổi nước mắt, nên phải khó khăn lắm mới đọc xong được, vì khu vực ngài quản trị đây dường như đã chết nay sống lại và được sinh hoạt như xưa. Phần thánh ca trong Thánh Lễ tất cả cộng đồng đều sốt sắng hát bộ Lễ Angelis bằng La Ngữ. Cuối Thánh Lễ, Cha Nguyễn Đức Kiên đại diện anh em Đồng Công, đọc một bài bày tỏ lòng tri ân dâng lên Đức Cha, Bà Cố, Quí Cha, quí vị Quan Khách và mọi người vì tấm lòng ưu ái các ngài đã dành cho anh em chúng tôi.

            Tiếp đến, mọi người vào cafeteria của đại học để dùng bữa trưa, tuy chỉ là một bữa ăn one line, nhưng lại rất trọng thể đối với chúng tôi. Từ Đức Cha đến tất cả Quí Vị Quan Khách đều sắp hàng tự lấy đồ ăn cho mình, ngoại trừ Đức Cha, ngài lấy đồ ăn cho Thân Mẫu của ngài trước đã, rồi ngài mới lấy phần ăn của ngài sau.

            3. Tinh thần Dòng hấp thụ nơi Vị Sáng Lập các con hãy gắng bảo tồn: Sau khi dùng bữa, Quan Khách ra về, anh em Đồng Công tập họp tại Tiền Đường Thánh Mẫu chào mừng Đức Cha và Thân Mẫu của ngài. Đức Cha tỏ ra rất vui mừng bằng tất cả tâm tình của một người Cha, ngài đã nhắn nhủ: “Cha rất vui mừng đón tiếp anh em Hội Dòng chúng con về đây; cánh đồng truyền giáo còn bao la, Giáo Phận bé nhỏ của Cha chỉ có 3% là Công Giáo… Chúng ta cần có nhiều Linh Mục và Tu Sĩ, nhưng phải là những Linh Mục và Tu Sĩ thánh thiện. Hiện nay, ơn gọi tu trì rất hiếm, không cần phải thông giỏi, giầu có, nhiều tiền của… nhưng cần thánh thiện, cần phải thể hiện Đức Khó Nghèo, không những trong tâm hồn, mà còn phải tỏ ra bên ngoài nữa, có thế người ta mới dễ nhận biết Chúa…”

            Quay sang  Cha Đại Diện, Đức Cha nói tiếp: “Đây là nhà của Cha, Cha hãy làm chủ nhà này”. Đức Cha lại nhắn nhủ chúng tôi thêm: “Một điều Cha cũng cần nhắn nhủ các con là: Người Mỹ cũng có nhiều cái tốt, các con nên bắt chước, nhưng cũng có rất nhiều cái xấu các con không nên bắt chước. Cái gì tốt của các con, các con hãy cố gắng duy trì, đừng đổi đi, tinh thần Hội Dòng các con được hấp thụ nơi Vị Sáng Lập, các con hãy gắng bảo tồn…”  Sau đó, Đức Cha hỏi đến anh em đã học thần học và hứa sẽ truyền chức Linh Mục vào cuối năm nay.

            4. Quyền tự quyết là hoàn toàn tùy thuộc ở Hội Dòng: Sau đâylà cuộcthăm viếng quan trọng của vị Bảo Trợ.Hồi 6 giờ chiều ngày 6.7.1975, Đức Cha Bernard Law lại tới thăm viếng Cộng Đoàn, với mục đích tìm biết những nhu cầu cần thiết và giải quyết những thắc mắc lo âu, đã được nêu ra qua cuộc điện đàm của Ủy Ban Trung Ương từ đảo Wake gọi về, đêm ngày 2.7.1975 trước đây.

            Cuộc thăm viếng quan trọng hôm nay, diễn ra trong bầu không khí hết sức thân mật, với sự hiện diện của các nhân vật liên hệ.Đức Cha lặp lại tất cả những thắc mắc lo âu đã được nêu ra với Cha Weissler, do cuộc điện đàm của Ủy Ban Trung Ương từ đảo Wake gọi về, mà Cha Weissler, vị phụ trách khu vực đại học này đã trình bày lại với ngài. Ngài đã giải quyết tất cả một cách minh bạch đại ý như sau: “Quyền tự quyết là hoàn toàn tùy thuộc ở Hội Dòng, Cha không bao giờ pha mình vào nội bộ”. Đức Cha còn nói thêm: “Nếu các con muốn Cha là Giám Mục của các con, Cha rất sẵn lòng làm việc đó”.

            Còn vấn đề phát triển Hội Dòng ở nhiều Giáo Phận khác, Cha rất sẵn lòng giúp đỡ và mong muốn, Cha không dám giữ các con ở mãi đây, vì Giáo Phận của Cha quá bé nhỏ, các con có đi hết Cha cũng bằng lòng, Cha chỉ tiếc vì không còn được giúp đỡ các con nữa thôi. Còn vấn đề tài chính, các con cũng đừng lo lắng, Cha sẽ tận tình giúp đỡ.

            Tối nay, Đức Cha không dùng bữa và khi Cộng Đoàn dùng bữa xong, Đức Cha ra ngoài gặp chung anh em chúng tôi cách hết sức thân mật và nhắn nhủ một bài rất cảm động, thích hợp với đời sống tu trì và hoàn cảnh hiện tại… Đáng tiếc, vì không ghi lại được những lời Đức Cha nói trong dịp đặc biệt này.

            Kính thưa Anh Chị Em, tới đây chúng tôi xin được trích những điểm chính trong Văn Thư chính thức của Thánh Bộ Phúc Âm Hóa Các Dân Tộc, gửi Đức Cha Bernarđô Law, Giám Mục Giáo Phận Springfield-Cape Girardeau về việc Thành Lập Tỉnh Dòng Đồng Công tại Hoa Kỳ:

VĂN THƯ CHÍNH THỨC CỦA THÁNH BỘ
THÀNH LẬP TỈNH DÒNG ĐỒNG CÔNG TẠI HOA KỲ

Số 4931/80, ngày 25 tháng 10 năm 1980

Kính thưa Đức Cha Bênađô Law,

Giám Mục Giáo Phận Springfield-Cape Girardeau, MO

Tôi xin báo Đức Cha là Thánh Bộ đã nghiên cứu cẩn thận các vấn đề liên quan đến việc các Tu Sĩ đó hội nhập đời sống Hoa Kỳ mà thời gian qua Đức Cha đã trình lên Thánh Bộ. Sau khi bàn hỏi Đức Tổng Giám Mục Giáo Phận, nơi định cư Nhà Trung Ương của Dòng, cũng như đại diện của nhóm Tu Sĩ Dòng hiện ngụ tại Carthage, Missouri, Thánh Bộ đã quyết định những điểm sau đây:

1. Qua văn thư này, Thánh Bộ thiết lập một Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ, gồm tất cả các Tu Sĩ hiện ngụ tại Hoa Kỳ, và đặt Tỉnh Dòng dưới sự xem xét đặc biệt của Đấng Bản Quyền Springfield-Cape Girardeau trong thời gian 10 năm. Tỉnh Dòng này được điều hành bởi một Giám Tỉnh và 4 Phụ Tá.

2. Hơn nữa, Thánh Bộ dành cho Đức Cha Quyền Bổ Nhiệm Giám Tỉnh và các Phụ Tá của Tỉnh Dòng mới thiết lập, sau khi Đức Cha thăm dò ý kiến của tất cả các Tu Sĩ tại Hoa Kỳ đã khấn trọn trong Dòng. Thời gian của các Chức Vụ này sẽ kéo dài trong 3 năm, vị Giám Tỉnh không có thể tại chức quá 3 khóa liên tiếp.

3. Cho tới khi việc tiếp xúc với Bề Trên Tổng Quyền trở thành thường xuyên và dễ dàng, dưới sự xem xét của Đức Giám Mục Nhà Tỉnh Dòng, chính những thẩm quyền mà Hiến Pháp Dòng dành cho Bề Trên Tổng Quyền và Hội Đồng của ngài.

            4. Dưới sự xem xét của Đức Giám Mục Nhà Tỉnh Dòng, trong sự tuân hợp và trung tín hoàn toàn với Đoàn Sủng và Hiến Pháp Dòng.

            5. Thánh Bộ mong muốn các Tu Sĩ Hội Dòng Đồng Công dấn thân trước hết vào việc phục vụ những người Việt Nam sống tại Hoa Kỳ, và đảm nhận những hình thức Tông Đồ thích hợp với Đoàn Sủng và mục đích của Dòng.

            6. Sau cùng, nhiệm vụ chính của các Bề Trên là phải xem xét cẩn thận để mọi phần tử Tỉnh Dòng dành thời giờ Hiến Pháp đã chỉ định cho việc cầu nguyện chung và riêng.

Xin Đức Cha vui lòng thông báo những quyết định trên đây cho Bề Trên đương nhiệm của anh em Dòng Đồng Công đang cư ngụ tại Hoa Kỳ, và xin cám ơn Đức Cha về sự trợ giúp quảng đại mà Đức Cha đã liên tục dành cho các Tu Sĩ nói trên. Tôi xin lợi dụng cơ hội này để bày tỏ với Đức Cha những cảm tình quí mến của tôi và cầu chúc Đức Cha mọi sự may lành.

             Chân thành kính chào Đức Cha trong Chúa

                            + Simon D. Lourdusamy

                    Hồng Y – Tổng Thư Ký Thánh Bộ.

LỜI GIỚI THIỆU TỈNH DÒNG MỚI của Đức Cha Bernard F. Law

gửi độc giả Nguyệt San Trái Tim Đức Mẹ

Tôi vui mừng và sung sướng biết bao khi tôi được chính thức tiếp nhận các Linh Mục và Tu Sĩ Dòng Đức Mẹ Đồng Công vào Giáo Phận Springfield-Cape Girardeau.

Đây là dịp thứ hai những người hiến thân cho Chúa này được tiếp nhận vào cộng đồng Công Giáo Miền Nam Missouri. Cách đây năm năm, khi biết rằng có một số phần tử Dòng Đồng Công trong lớp người Việt Nam tị nạn tại Fort Chaffee, Arkansas, chính tôi là người được vinh dự giúp đỡ họ tìm nơi tạm trú là một chủng viện bỏ trống thuộc Dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm ở Carthage, Missouri.

Tôi hân hoan thông báo cùng Quý Vị rằng nơi tạm trú này trong Giáo Phận Springfield-Cape Girardeau đã trở thành Trụ Sở Trung Ương vĩnh viễn của Dòng Đức Mẹ Đồng Công tại quốc gia này. Mới đây Tòa Thánh cho tôi biết vừa chấp nhận thiết lập Tỉnh Dòng Đồng Công tại Hoa Kỳ.

Do dó, lại một lần nữa tôi được rộng mở cánh tay đón tiếp các Linh Mục và Tu Sĩ Dòng Đồng Công trong hoàn cảnh mới của họ, như là một hợp thành của Giáo Hội Hoa Kỳ và một thành phần vĩnh viễn của Giáo Phận Springfield-Cape Girardeau. Các Linh Mục và Tu Sĩ của Hội Dòng sắp sửa hoàn tất công việc mua lại trụ sở, nhờ đó họ sẽ là chủ quyền của toàn thể khu vực chủng viện tại Carthage, Missouri, nơi mà họ hiện đã sống năm năm qua.

Khi Tòa Thánh thông báo cho hay là Cộng Đoàn Đồng Công Hoa Kỳ cần phải trở thành một Tỉnh Dòng Tự Lập, Tòa Thánh cũng qui định rằng: Tỉnh Dòng này có trách nhiệm tông đồ lo đến đời sống thiêng liêng của những người Công Giáo Việt Nam hiện đang cư ngụ tại Hoa Kỳ. Trách nhiệm sẽ đặt thêm gánh nặng cho những người tài chính vốn đã eo hẹp của Hội Dòng.

Sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa đã đưa người Việt Nam đến Hoa Kỳ và đã xếp đặt để các Linh Mục và Ti Sĩ Dòng Đồng Công có mặt tại đây hầu chăm sóc nhu cầu thiêng liêng cho họ. Cũng chính sự quan phòng đó sẽ cung ứng việc hỗ trợ tinh thần lẫn vật chất cho Hội Dòng. Tôi xin mời gọi và khuyến khích những người Công Giáo Việt Nam hiện sống tại Hoa Kỳ nên quảng đại giúp đỡ và ủng hộ Hội Dòng trong dịp đặc biệt này cả về tinh thần lẫn vật chất, dưới hình thức cầu nguyện và hy sinh. Những lời cầu nguyện và rộng lòng đóng góp của Quý Vị sẽ làm vững chắc sứ mạng cần được tiếp tục của các Linh Mục Việt Nam đối với đồng bào yêu dấu của họ tại Hoa Kỳ trong những tháng năm tới đây.

   Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành cho Qúy Vị.

  Chân thành kính chào Quý Vị trong Chúa Kitô.

+ Bernard F. Law

 Giám Mục Giáo Phận Springfield-Cape Girardeau

  (xem “NSTTĐM” số 41 năm 1981)

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*